Quỷ Tam Quốc

Chương 1457. Thư Cục

Việc Phi Tiềm thuyết giảng tại học cung thực chất là quá trình chuyển đổi một số quan niệm, biến những tư tưởng cũ của thời Hán thành những nhận thức của con người hiện đại.
Con cháu sĩ tộc trong thời đại này vẫn có ý thức về quốc gia, nhưng không phải là mạnh mẽ. Họ có thể dũng cảm chiến đấu khi đối diện với sự xâm lược của ngoại tộc vì nhà Hán, nhưng cũng không ngại thủ đoạn để bảo vệ lợi ích gia tộc. Nói cách khác, sự dũng mãnh của họ trước người Hồ cũng chỉ để đổi lấy vinh quang cho gia tộc của mình.
Nhưng khái niệm về quốc gia thực sự vẫn còn khá thiếu thốn. Chính vì thế, lòng yêu nước hẹp hòi, ích kỷ cũng đã là điều khó tìm trong giới sĩ tộc thời Hán, chứ chưa nói đến việc Phi Tiềm muốn thúc đẩy một lòng yêu nước rộng lớn hơn.
Mặc dù thời Hán đã thúc đẩy Nho giáo, nhưng tư tưởng trung quân thời kỳ đầu không giống với sự cực đoan của các thời đại sau. Ở thời Hán, lòng trung thành với vua có thể được hiểu là lòng trung thành với cấp trên. Đối với sĩ nhân, họ trung thành với các khanh đại phu, các khanh đại phu thì trung thành với chư hầu, còn các chư hầu lại trung thành với thiên tử. Từng lớp trung thành này tạo thành một cấu trúc kim tự tháp, có chút ảnh hưởng từ thời nhà Chu.
Đến thời Hán Vũ Đế với chính sách “đại nhất thống”, nhiều lễ nghi phong thiện được thực hiện, Hán Vũ Đế muốn nhắc nhở bách quan rằng, việc trung thành từng lớp là điều đương nhiên, nhưng quan trọng hơn cả là trung thành với người đứng đầu lớn nhất, chính là thiên tử.
Tuy nhiên, cho đến cuối thời Đông Hán, tư tưởng này vẫn chưa hoàn toàn ăn sâu vào lòng người. Các quan chức và thuộc lại vẫn có thể gọi nhau bằng danh xưng “chủ công” hay “quân thần”, điều này là minh chứng rõ ràng.
Cách suy nghĩ này có ưu điểm hay không? Có, ít nhất là trong thời kỳ chuyển tiếp từ Tần sang Hán, khi hệ thống hành chính của quận huyện được mở rộng, đã có tác dụng ổn định rất lớn. Bởi vì thời điểm đó, mục tiêu quan trọng nhất là ổn định địa phương, tránh lặp lại tình trạng hỗn loạn như cuối thời Tần.
Tuy nhiên, chính sách này lại dẫn đến việc trong lòng các sĩ tộc chỉ có khái niệm về gia tộc. Thiên tử không phải là biểu tượng của quốc gia, mà chỉ là người đứng đầu thành công nhất của một gia tộc lớn.
Hơn nữa, hệ thống cử hiếu liêm và các phương thức tuyển dụng nhân tài khác lại càng củng cố sức mạnh cho các gia tộc. Đối với nhiều sĩ tộc, quốc gia quá xa vời, họ có thể học hành, có thể làm quan, bởi vì gia tộc của họ có thế lực tại địa phương hoặc trong triều đình, nên họ mới được tiến cử hoặc có cơ hội nhờ vào mối quan hệ gia tộc, ngoài sự nỗ lực cá nhân.
Vì vậy, Phi Tiềm buộc phải đặc biệt nhấn mạnh đến khái niệm quốc gia và dân tộc, tạo ra một khái niệm tổng thể, và sử dụng thiên tử như biểu tượng của khái niệm này. Mục đích là để các sĩ tộc dần dần trung thành với quốc gia, từ từ thấm nhuần và thay đổi tư tưởng coi trọng gia tộc, từ đó kiềm chế sự phát triển quá mức của các môn phiệt.
Lịch sử đã chứng minh rằng, khi các môn phiệt hình thành, sẽ kéo theo sự độc quyền trong nhiều lĩnh vực. Mà một khi xuất hiện độc quyền, sẽ đi kèm với sự lười biếng và tham nhũng. Ví như chuyện một hãng sản xuất kem đánh răng chỉ chịu đổi mới khi bị đối thủ cạnh tranh dồn ép.
Rõ ràng, những tư tưởng mới của Phi Tiềm, ẩn dưới chiêu bài “hiếu kinh”, không gặp phải quá nhiều phản đối. Ngược lại, nhiều người cho rằng đây là sự mở rộng sâu sắc hơn về Hiếu kinh. Dưới lời lẽ đầy thuyết phục của Phi Tiềm, nhiều học giả bắt đầu cảm thấy rằng, nếu tương lai của đất nước phụ thuộc vào họ, thì một niềm tự hào nội tại đã nảy sinh, và niềm tự hào này khiến họ dễ dàng chấp nhận lý thuyết của Phi Tiềm hơn.
Chỉ khi xây dựng được khái niệm quốc gia và lòng yêu nước trong giới sĩ nhân, thì mới có thể nâng cao sự đoàn kết, chống lại tình trạng chia rẽ và hỗn loạn có thể ập đến trong tương lai.
Còn những khái niệm như dân chủ, tự do, hiện thực hóa giá trị cá nhân, tự do tư tưởng hay quyền tự do ngôn luận... ngay cả ở thời hiện đại, những điều đó cũng chưa chắc đã thực sự đạt được hoàn toàn, huống hồ là thời Hán. Những điều này chắc chắn sẽ bị coi là phản đạo và nguy hiểm trong con mắt của hầu hết mọi người thời bấy giờ, nói ra chẳng khác nào tự rước họa vào thân.
Bài giảng của Phi Tiềm tại học cung lần này rất ngắn gọn, chỉ trong khoảng nửa canh giờ là kết thúc. Dù ông có hiểu biết sâu rộng, cũng không thể như các bậc học giả uyên thâm, hiểu tường tận từng câu từng chữ trong kinh điển, sẵn sàng đối đáp mọi câu hỏi của học trò. Vì thế, Phi Tiềm quyết định dừng lại khi thấy đã đủ, không mở ra thời gian đặt câu hỏi như những buổi giảng thông thường mà trực tiếp tuyên bố kết thúc.
Dù sao thì đây cũng là “đất của ta”, Phi Tiềm tự quyết định mọi thứ.
Khi vừa quay đầu, Phi Tiềm bỗng nhìn thấy ánh mắt đầy suy tư của Tư Mã Ý, trong lòng không khỏi khẽ rung lên. Ông đảo mắt một vòng, liền thuận tay đưa cuốn Hiếu kinh mình đang cầm cho Tư Mã Ý, nói: “Tặng cho khanh, mong khanh chăm chỉ học hành.”
Tư Mã Ý nhướn mày trái một chút, mày phải thì không động, tỏ ra có chút ngạc nhiên, nhưng rất nhanh chóng ông tỏ vẻ cảm kích, hai tay kính cẩn nhận lấy.
Tư Mã Ý là người rất thông minh, điều này Phi Tiềm không hề nghi ngờ. Vì vậy, khi thấy Tư Mã Ý lộ ra vẻ trầm ngâm, Phi Tiềm lập tức tìm cách làm gián đoạn suy nghĩ của ông ta. Tiện thể, tặng cuốn sách như một cách ngầm tỏ ý rằng: "Ta rất xem trọng ngươi", mà chỉ tốn một cuốn sách thì cũng chẳng sao.
Hiệu quả rất rõ ràng. Khi Phi Tiềm rời đi, Tư Mã Ý lập tức bị các học trò khác vây quanh, ai nấy đều muốn xem cuốn sách của Tướng quân Tây Chinh, xem thử có chú giải hay những ghi chép đặc biệt nào không.
Thật sự có một điểm đặc biệt, nhưng không phải của Phi Tiềm, mà là của Lương đại nhân, với câu “thiếu niên mạnh thì quốc gia mạnh”. Phi Tiềm chỉ sửa đôi chút và viết lên trang đầu của Hiếu kinh, khiến các học giả hăng hái đọc lên, làm xáo trộn suy nghĩ của Tư Mã Ý.
Phi Tiềm không sợ Tư Mã Ý, nhưng trong giai đoạn cần tạo ra một dòng tư tưởng thống nhất, những kẻ thông minh như Tư Mã Ý càng ít càng tốt. Một khi dòng tư tưởng bắt đầu lan tỏa, những ý kiến trái chiều sẽ bị nhấn chìm. Sau này, liệu Tư Mã Ý có nhớ lại những suy nghĩ ban đầu hay không, Phi Tiềm cũng chẳng bận tâm.
Muốn có một trào lưu tư tưởng, một bài giảng thôi chưa đủ. Để thúc đẩy điều này, Phi Tiềm đã hào phóng xuất bản hàng loạt bản in Hiếu kinh và tổ chức một chương trình bán hàng lớn tại thành Bình Dương.
Giảm giá sốc, chỉ có trong thời gian giới hạn!
Mua hai tặng một!
Mua cả bộ tặng kèm văn phòng tứ bảo!
Combo mèo chó liên kết! Không mua không về!
Chương trình này sẽ tiếp tục mở rộng ra Hà Đông và Quan Trung, rồi kéo dài đến Hán Trung và Hoằng Nông.
Phi Tiềm hi vọng rằng việc sử dụng cách thức này sẽ thúc đẩy sự thay đổi trong phong khí sĩ tộc, từ đó thay đổi diện mạo xã hội. Liệu điều đó có thành công hay không, Phi Tiềm cũng không chắc, nhưng chắc chắn phải làm, bởi tình thế của Đông Hán lúc này quả thực không mấy khả quan.
Trước Phi Tiềm, không phải là chưa có ai nhận ra những vấn đề
này, nhưng...
Sau thời Hòa và An Đế, Đông Hán rơi vào sự tranh giành quyền lực giữa hoạn quan và ngoại thích, khiến xã hội rơi vào hỗn loạn, chính trị dần mất đi tinh thần tiến bộ. Mỗi thế hệ cầm quyền chỉ lo giữ vững địa vị của mình, trấn áp những đối thủ hiện tại hoặc tiềm ẩn. Chính vì vậy, cả hệ thống chính trị trở nên bại hoại, dân phong ngày càng suy đồi. Mặc dù có một số người chủ trương đề cao sĩ đạo để chống lại, nhưng không thể cứu vãn được tình trạng suy thoái của Đông Hán.
Dân phong phản ánh tình hình của một xã hội, và trong xã hội, nhóm dễ bị ảnh hưởng nhất chính là tầng lớp học sinh trẻ tuổi. Họ là những người dễ bị cuốn theo các trào lưu tư tưởng mới, điều này Phi Tiềm rất hiểu.
Phi Tiềm vẫn nhớ một chương trình khoa học phổ thông nào đó, dù thật hay giả, có nói rằng tại sao người trẻ lại bốc đồng hơn. Bởi vì vỏ não của họ chưa phát triển hoàn chỉnh, thêm vào đó, từ thời cổ đại, những người trẻ cần phải dũng cảm, thậm chí liều lĩnh, để đối mặt với thử thách, tìm kiếm và tranh đấu. Vì thế, đôi khi ta thấy họ lao vào hành động mà không sợ hãi, không suy nghĩ nhiều.
Ngược lại, những người lớn tuổi có vỏ não nhăn nheo hơn, họ suy nghĩ nhiều hơn và trở nên cẩn trọng hơn, bởi bộ tộc cần họ để truyền lại kinh nghiệm cho thế hệ sau.
Khi cả một triều đại mất phương hướng, toàn xã hội chỉ chăm chăm vào việc kiếm tiền, tất cả mọi người đều tham gia vào cuộc đua làm giàu, không ngừng tìm cách kiếm nhiều tiền hơn, thì chính sự tham lam này đã trở thành mầm mống diệt vong của triều đại nhà Hán.
Mặc dù có nhiều người có lòng cảnh tỉnh, như Vương Phù, đã lên tiếng phản đối xã hội đổ đốn. Nhưng xã hội không thể chỉ có một nghề là nông nghiệp. Càng nhấn mạnh vào việc quay trở lại nông nghiệp, càng tạo cơ hội cho tầng lớp thống trị tham lam nắm bắt thông tin và nguồn lực để gia tăng tham nhũng.
Vương Phù và những người cùng chí hướng đã thất bại. Họ không chỉ không thay đổi được xã hội, mà còn tiếp tay cho sự mục nát của chính trị triều đình, đồng thời tạo ra một thế hệ sĩ tộc con cháu chỉ biết tranh danh đoạt lợi.
Trong sự kiện đảng cố, dù có nhiều sĩ tộc là những người chính trực, sẵn sàng hy sinh danh tiếng và tính mạng để hướng dẫn xã hội, nhưng giữa những người anh hùng chân chính, vẫn lẫn vào đó những kẻ giả mạo, những kẻ vì danh lợi mà tham gia phong trào, lừa gạt thiên hạ. Tệ nạn này càng được nhân rộng nhờ vào hệ thống tuyển cử giả dối.
Từ quan đến sĩ tộc, đến dân chúng, tất cả đều suy đồi. Nhà Đông Hán vì thế mà không thể thoát khỏi vũng lầy.
Tuy nhiên, những học sinh trẻ tuổi dễ bị lôi cuốn, còn những lão già ranh mãnh với bộ râu bạc trắng thì khó qua mặt. Vừa ra khỏi đại điện, Phi Tiềm đi chưa được bao xa, thì Tư Mã Huy đã vội vàng đuổi theo: “Tướng quân, xin tướng quân dừng bước…”
“Thủy Kính tiên sinh, có chuyện gì vậy?” Phi Tiềm dừng lại hỏi.
“Hay lắm, hay lắm… Tướng quân hiểu biết sâu rộng về kinh điển… Hôm nay, lời nói của tướng quân thực sự đã vang dội, đánh thức nhiều người...” Tư Mã Huy tuy đã có tuổi, nhưng khi chạy đến vẫn có chút thở gấp. Sau khi bình ổn hơi thở, ông nói tiếp, “... Tướng quân, không biết hôm nay thuyết giảng có phải là muốn chính lễ khứ vọng, phục hồi chính phong Nho giáo?”
Lão hồ ly này, chẳng phải là đang cố đào hố cho ta sao?
Phi Tiềm nhìn Tư Mã Huy, cười nhẹ, không trả lời trực tiếp mà nói: “Sao tiên sinh lại nói vậy?”
“Hay lắm, hay lắm,” Tư Mã Huy vẫn giữ nụ cười, “Tướng quân chỉ nói về nghĩa của Hiếu kinh, không bàn đến những thứ phù phiếm như đồ sấm, phải chăng đó là để trừ bỏ hư vọng, đoạn tuyệt con đường tà mị? Hành động của tướng quân thật đáng khâm phục! Thật may mắn! Thật may mắn!”
“Năm xưa, triều cương mờ mịt, người học không thông kinh văn, chỉ mong học cấp tốc, ứng thi đối đáp, quen thói cúi lạy, xưng danh. Bởi thế mà kinh học bị phế bỏ, chương văn bị bỏ quên, các Nho sinh ẩn mình trong không gian tĩnh lặng, trong khi những kẻ hủ bại ồn ào ngoài triều đình…” Tư Mã Huy càng nói càng kích động, bộ râu bạc của ông rung rung, “Từ đó đến nay, năm kinh đều suy yếu, kẻ hậu sinh chạy theo đồ sấm, các bậc lão Nho không còn ai để truyền thụ đạo nghiệp, dẫn đến những kẻ tham lam càng thêm hoành hành, người cầu chân lý càng ít đi… Trong Văn Miếu không còn nghe thấy tiếng bàn luận kinh điển, nơi học hành không còn thấy người thuyết giảng… Các quan đại thần triều đình, chỉ biết những thứ phù phiếm, tranh nhau tô điểm vẻ ngoài, che giấu cái tâm, lừa dối dân chúng. Vì thế mà thiên hạ hỗn loạn, chiến tranh liên miên…”
Tư Mã Huy cúi đầu, chắp tay thi lễ với Phi Tiềm, rồi nói tiếp: “Hôm nay được nghe tướng quân chỉ ra gốc rễ của Nho kinh, giải thích ý tứ của các bậc tiên hiền, có ý chỉnh đốn hàng ngũ, loại bỏ những thứ phù phiếm, luận bàn một cách tinh tế và tuyệt vời, quả thật là rất thâm sâu... Vì vậy, lão phu mới cả gan hỏi, nếu tướng quân có ý khôi phục chính phong Nho giáo, nếu không chê lão phu tài hèn, nguyện dốc hết sức mình giúp tướng quân…”
À, ta đã hiểu.
Phi Tiềm suy nghĩ một lúc, rồi nói: “Kinh văn xưa nay vốn không có sai lầm, nhưng đáng tiếc là những kẻ vô đạo đã làm bại hoại bản chất, xuyên tạc và công kích, lợi dụng đồ sấm để thực hiện những mưu đồ xấu xa. Những việc làm đê hèn như vậy, quả thực không đáng để nhắc đến… Giờ đây, nếu Thủy Kính tiên sinh muốn vén màn sương mù, chỉ ra con đường chính đạo, đó là điều đúng đắn nhất! Dù ta chỉ là kẻ hậu sinh kém cỏi, không thông kinh văn, nhưng cũng lấy làm vinh dự, sao lại có thể ngăn cản?”
“Hay lắm, hay lắm…” Tư Mã Huy rõ ràng là rất vui mừng, liên tục nói “hay”.
“... Tuy nhiên,” Phi Tiềm hạ giọng nghiêm nghị, nói tiếp, “Nếu lập bè phái, lấy văn học để khống chế người khác, lấy danh nghĩa Nho giáo để thực hiện tham vọng cá nhân, thì đã làm trái với ý nguyện ban đầu, trở thành hạng sâu mọt tham lam.”
Tư Mã Huy ngẩn người, lập tức chắp tay nói: “Tướng quân nói rất đúng! Quả thật phải như vậy!”
Phi Tiềm lại mỉm cười, nói thêm vài lời ôn hòa, rồi bảo Tư Mã Huy chuẩn bị một số quy trình để chính thức trở thành “học sử”, đảm nhiệm việc chấn chỉnh sự lệch lạc của Nho học.
Mặc dù những lời của Tư Mã Huy đầy vẻ cao thượng, nhưng không phải là không ẩn chứa tư lợi. Tuy nhiên, Phi Tiềm không phải là người quá cầu toàn. Thánh nhân tuyệt đối quá hiếm hoi, ngay cả Khổng Tử cũng có tư tâm, huống hồ là người khác?
Dùng người như Tư Mã Huy, một danh sĩ lâu đời, thực ra cũng có tác dụng kích thích nhất định. Tuy nhiên, cần phải thêm chút cát vào hỗn hợp này, nhưng chọn ai mới là điều đáng suy nghĩ?
Bạn cần đăng nhập để bình luận