Cẩm Y Xuân Thu
Chương 1184: Biết người
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu.
Binh sĩ của trạm gác phía Bắc Hán chưa hẳn là quân tử, nhưng đối với những người lính có khi nửa năm còn chưa nhìn thấy một người phụ nữ, đột nhiên trước mắt xuất hiện mấy nữ nhân diễm lệ, thì cho dù như thế nào, cũng khó chống đỡ được sự mê hoặc.
Đi lính ba năm, nái xề cũng thành mỹ nữ.
Huống chi trước mặt bọn họ là mỹ nữ được bí mật lựa chọn ở Hán Trung, ngay cả nếu như đây là gái thanh lâu, cũng không chưa chắc bọn họ không động lòng.
- Tào tướng quân, lần này ta phụng ý chỉ của hoàng thượng, muốn đưa mấy mỹ nhân tới Hàm Dương.
Kỷ Tiến Tài nói:
- Trong số này, có hai mỹ nhân được đặc biệt đưa tới để Khuất đại công tử làm thị thiếp, bọn họ xuất thân là quý tộc Đại Sở, chủ ý cũng là muốn hai nước có quan hệ thông gia tốt đẹp. Kẻ hèn này vốn từ Lễ bộ đi ra, có một số lễ tiết vẫn là không thể miễn được, nếu giao các cô nương này cho Tào tướng quân đưa đi Hàm Dương, thì…
Tiếng háo sắc của Khuất Mãn Bảo, tuy không dám nói là cả thiên hạ đều biết, nhưng mọi người ở Tây Bắc đều biết.
Vì gái đẹp, thuộc hạ của Khuất Mãn Bảo cũng không ít lần đổ máu.
Trong lúc nhất thời, Tào Anh cũng không rõ lời nói của Kỷ Tiến Tài là thật hay giả, trong lòng ít nhiều cũng có sự đề phòng.
- Hiệu úy, lần trước Sài quân sư cũng bí mật qua ải từ nơi này, lúc đó chúng ta không dám hỏi nhiều, bây giờ xem ra, quả thật là Sài quân sư đi tới Sở quốc.
Thấy Tào Anh do dự bất định, người bên cạnh ghé sát lại, thấp giọng nói:
- Người này nói Sài quân sư sang Sở quốc kết minh, hơn nữa hiệu úy nhìn xem, bọn họ có tổng cộng mười mấy người, còn mang theo không ít lễ vật, hẳn là thật sự đi đáp lễ Tam hoàng tử.
Tào Anh thấp giọng nói:
- Thời gian này, phải rất cẩn thận, nếu đám người này có ý đồ làm loạn, đến lúc đó cấp trên truy cứu, chúng ta sẽ phải rơi đầu.
- Bọn họ thì có thể làm được gì?
Người nọ kề tai Tào Anh, nói:
- Hiệu úy, lão già này nói có mỹ nhân đưa tới cho đại công tử, chuyện này không phải bình thường. Ngài nghĩ xem, nếu như hôm nay thực sự đắc tội đám người này, sau này hai mỹ nhân kia được đại công tử sủng ái, lại thủ thỉ bên tai nói xấu chúng ta, thì chúng ta không đỡ nổi đâu.
Tào Anh nhớ tới tính tình vui giận bất thường của Khuất Mãn Bảo, tim cũng hơi đập nhanh, liền thấp giọng hỏi:
- Vậy theo ngươi phải làm sao bây giờ?
- Để họ đi qua thôi.
Người kia thấp giọng nói:
- Tuy nhiên phải giữ lại binh khí của bọn họ, nếu thật sự là sứ đoàn, cũng không cần phải giao chiến, bọn họ không cần mang theo binh khí.
Tào Anh gật đầu nói:
- Nói đúng lắm!
Lúc này, y mới hướng xuống phía dưới, hô to:
- Nếu muốn đi đáp lễ Tam hoàng tử, chúng ta có thể để cho các ngươi qua, nhưng các ngươi phải giao nộp binh khí, không được mang đi.
Kỷ Tiến Tài nói:
- Tào tướng quân, bọn ta mang theo binh khí phòng thân, cũng là đề phòng việc bất trắc, một khi gặp phải tình huống nguy cấp, chẳng phải là ngay cả năng lực tự bảo vệ mình cũng không có?
- Từ đây tới Hàm Dương, dọc đường thái bình vô sự, có tình huống gì bất trắc kia chứ?
Tào Anh nói:
- Nếu các ngươi thực sự lo lắng, ta sẽ phái vài người hộ tống các ngươi tới Hàm Dương, bảo đảm dọc đường các ngươi được bình an.
Người bên cạnh Tào Anh cũng kêu lên:
- Các ngươi là sứ đoàn, đến để kết minh hai nước, còn muốn mang binh khí làm cái gì?
Kỷ Tiến Tài do dự một chút, cuối cùng nói:
- Vậy thì, cứ làm theo lời của Tào tướng quân, bọn ta giao binh khí ra.
Tào Anh thầm nghĩ đối phương đã nhanh chóng giao ra binh khí như vậy, xem ra thật sự là sứ đoàn rồi, bằng không, nếu đối phương thật sự có ý đồ gây rối, thì tuyệt đối sẽ không mau mắn giao ra binh khí như vậy.
Quả nhiên, y nhìn thấy Kỷ Tiến Tài quay lại đoàn người, căn dặn một lượt, rồi tất cả mọi người đều tháo bội đao trên người xuống, mấy người lưng đeo cung tên, bao gồm cả Tề Ninh trong đó, cũng tháo cung tên xuống, tất cả binh khí đều được đưa tới chất đống ở phía dưới tường đá.
Lúc này Tào Anh mới sai người xuống phía dưới, mở cửa trên tường đá, trước tiên thu hết số binh khí kia lại, sau đó mới cho bọn Kỷ Tiến Tài qua ải.
Kỷ Tiến Tài đi đầu, đoàn người rồng rắn đi qua trạm gác, tuy binh khí đã được giao nộp, nhưng binh sĩ Bắc Hán vẫn hết sức đề phòng, ai nấy đều nắm chặt chuôi đao.
Tào Anh đã từ đầu tường xuống tới, Kỷ Tiến Tài chắp tay cười nói:
- Đa tạ Tào tướng quân châm chước.
Ông ta lấy ra một xấp ngân phiếu từ trong tay áo, nhét vào trong tay Tào Anh, cười nói:
- Đây là một chút lòng thành, lát nữa xin Tào tướng quân mời các huynh đệ uống rượu giúp ta.
Tào Anh cũng mau mắn nhận lấy ngân phiếu, đưa mắt liếc nhìn mọi người, rồi mới đi tới bên cạnh xe ngựa, lại liếc nhìn Kỷ Tiến Tài, rồi chợt vén rèm xe lên, liền nhìn thấy mấy cô gái ngồi trong xe. Thấy Tào Anh đột ngột vén rèm, mấy cô gái đều lập tức cúi đầu xuống.
Tào Anh cười hi hì, buông rèm xuống, lại nhìn thấy xe sau chở mấy cái rương lớn, liền đi tới, hỏi
- Trong rương này đựng cái gì?
- Trong này đều là tranh thư họa cổ và một số đồ châu báu từ hoàng cung ban tặng, có một số là tặng cho Tam hoàng tử, một số tặng cho Khuất lão tướng quân.
Tào Anh nói:
- Mở ra xem?
Kỷ Tiến Tài nhíu mày nói:
- Tào tướng quân, thế này là không nên đâu. Chính ngài cũng nhìn thấy, những cái rương này đều có giấy niêm phong, tới Hàm Dương rồi mới được mở.
- Bổn tướng có quân lệnh trong người, cho dù có người quá quan, cũng phải kiểm tra kỹ càng.
Tào Anh nói:
- Mở rương ra, để chúng ta kiểm tra một chút!
Kỷ Tiến Tài nhìn chằm chằm Tào Anh một lát, rồi bỗng nhiên nói:
- Về nước!
Liền xoay người định quay trở về, bọn Tề Ninh lập tức làm ra vẻ muốn quay trở lại. Tào Anh sửng sốt, nhất thời hơi cấp bách, ngăn lại:
- Đây là ý gì?
- Tào tướng quân, bổn quan dù sao cũng là sứ thần của Đại Sở, vì sự kết minh giữa hai nước, ngài bảo chúng ta giao ra binh khí, chúng ta cũng không nhiều lời, tất cả binh khí đều đã giao nộp.
Kỷ Tiến Tài lạnh lùng nói:
- Bây giờ ngài biết rõ mấy cái rương này có dán giấy niêm phong, nhưng vẫn ép buộc chúng ta mở rương, chẳng lẽ sứ đoàn Đại Sở ta mặc cho các ngươi thao túng? Ta là sứ thần Đại Sở, cũng phải giữ gìn quốc thể cho Đại Sở, nếu Tào tướng quân khăng khăng đòi kiểm tra, bổn quan đành phải quay về nước, báo cáo mọi việc với hoàng thượng. Có lẽ hoàng thượng niệm tình ta biết giữ gìn quốc thể, cho dù ta không đến được Hàm Dương, người cũng sẽ xử phạt nhẹ đối với ta.
Ông ta phất tay, nói:
- Đi!
Tào Anh nhất thời luống cuống, thầm nghĩ mình chỉ là một hiệu úy nho nhỏ, nếu thật sự bởi vì mình mà sứ đoàn Sở quốc phải quay về, đến lúc phái Hàm Dương truy cứu, chỉ e sẽ liên lụy tới cửu tộc. Y vội nói:
- Mà thôi, mà thôi, ngươi cũng đừng nóng giận, ta chỉ là phụng mệnh hành sự thôi mà, đã có giấy niêm phong, ta cũng không làm khó ngươi.
Lúc này Kỷ Tiến Tài mới hừ nhẹ một tiếng, hô lên:
- Đi!
Tào Anh nói:
- Ta phái năm người hộ tống các ngươi tới Hàm Dương.
Y lập tức chọn ra năm người đi theo đoàn người tới Hàm Dương.
Sau khi nhập quan, Tề Ninh đã âm thầm quan sát tình hình xung quanh, thứ hắn muốn tìm kiếm trước hết, là tòa tháp canh. Đúng như hắn dự đoán, trạm gác của Bắc Hán đại khái cũng xấp xỉ bên phía Sở quốc, cách tường đá không quá một trăm bước, là một tòa tháp canh đứng sừng sững, trên tháp canh cũng cắm một ngọn đuốc đang cháy làm phương tiện truyền tin, trên tháp có hai tên lính gác, tay cầm trường cung.
Lúc này trong trạm gác, có hai, ba mươi người có mặt, binh lực thật sự không nhiều, nhưng ai nấy đều lưng hùm vai gấu, toàn thân lộ rõ vẻ dũng mãnh và nhanh nhẹn của người Tây Bắc.
Tề Ninh biết, hẳn là đối phương không chỉ có từng ấy người, phụ cận còn có những binh sĩ khác.
Sau khi chọn ra năm người, Kỷ Tiến Tài chợt sai người mang tới một vò rượu, ông ta đưa tới trước mặt Tào Anh, nói:
- Tào tướng quân, đây là rượu ngon quý giá trong cung, đặc biệt đưa tới Hàm Dương, ta để lại một vò, để ngài nếm thử.
Tham gia quân ngũ, hiếm có binh sĩ nào không uống rượu, Tào Anh càng là tửu đồ, nhưng thường ngày y chỉ uống loại rượu rất xoàng xĩnh, là một hiệu úy, làm sao có thể được uống rượu ngon trong cung? Trong lòng rất vui mừng, Tào Anh cười nói:
- Vậy thì ta cũng không khách khí.
Nhận lấy vò rượu, y ôm trong lòng, khuôn mặt hết sức vui vẻ.
Kỷ Tiến Tài cũng không dừng lại, liền vung tay lên, đoàn người tiếp tục đi về phía bắc.
Đi chưa được hai dặm, Tề Ninh nhìn thấy một dãy nhà gỗ nhỏ ven đường, nơi này địa thế rộng mở, nhà gỗ được cất dựa vào vách núi, Tề Ninh biết đây là doanh trại của binh lính trạm gác.
Trong doanh trại quả thật có một số binh sĩ, thấy đoàn người của Tề Ninh, các binh sĩ trong doanh trại đều bước ra ngoài. Tề Ninh nhìn lướt qua, doanh trại này có mười người, có mấy người đeo tạp dề, hơn nữa trên nóc một ngôi nhà có ống khói dựng lên, hẳn là nhà bếp, nơi cơm nước của binh lính trạm gác, hẳn là ở ngay bên cạnh.
Lúc này Tề Ninh đã xác định được nhân số bên này, tất cả có khoảng bốn năm mươi người, cũng không nhiều.
Đoàn người đi ngang qua trước dãy nhà gỗ, năm binh sĩ được phái hộ tống chào hỏi binh lính trong doanh trại, nói rõ tình huống. Đoàn người cũng không dừng lại, tiếp tục đi lên phía trước. Đi được bốn, năm dặm, trời đã bắt đầu tối, Kỷ Tiến Tài hỏi một binh sĩ:
- Phía trước còn có trạm gác không?
- Phía trước cách hơn hai mươi dặm, còn có một trạm gác.
Một binh sĩ nói:
- Tới được đó, hẳn là đã nửa đêm, phía trước có một đoạn đường gồ ghề khó đi, mất nhiều thời gian.
Kỷ Tiến Tài khẽ gật đầu, nói:
- Đi đường cả ngày, mọi người đều đã mệt mỏi rồi, tiếp tục đi thêm hai dặm nữa, rồi chúng ta nghỉ ngơi.
Mấy tên binh sĩ Bắc Hán cũng không nghi ngờ, nói:
- Phía trước thật sự có một chỗ hơi mở rộng ra, nghỉ lại ở đó một đêm, chờ hừng sáng rồi đi cũng được, buổi tối nhìn đường không rõ, không cẩn thận là ngã gãy chân.
Đi tới trước không bao lâu, quả nhiên thấy một chỗ hơi rộng rãi, Kỷ Tiến Tài bảo mọi người dừng lại, lại phân phát lương khô cho mọi người.
Mấy tên binh sĩ Bắc Hán nhận lấy lương khô, sau khi ăn no, nhìn thấy không ít người trong sứ đoàn đã nằm xuống đất mà ngủ, có một số người lại ngồi dựa vách đá trò chuyện. Mấy tên binh sĩ Bắc Hán cũng không lại gần, mà tụ cùng một chỗ cười nói, cuối cùng buồn chắn, hai ba người nằm nghiêng trên mặt đất mà ngủ, không lâu sau, hai người còn lại cũng ngủ.
Tề Ninh ăn lương khô xong, vẫn dựa vào vách đá nhắm mắt dưỡng thần, một lúc lâu sau, nghe bên cạnh có động tĩnh, hắn mở mắt nhìn sang, thấy Kỷ Tiến Tài đã tới gần, hạ giọng nói nói với mình:
- Tước gia, bọn họ ngủ cả rồi!
Tề Ninh quay đầu lại nhìn về phía mấy tên binh sĩ Bắc Hán, lúc này trời tối đen, trên hiệp đạo, tầm nhìn rất ngắn, nhưng Tề Ninh có thị lực kinh người, hắn nhìn thấy mấy người kia quả nhiên đã ngủ. Ánh mắt trở nên lạnh lẽo, hắn nhẹ giọng nói:
- Sắp đến giờ rồi!
Đưa tay lần vào giữa da giày, hắn lấy ra thanh hàn nhận chém sắt như chém bùn, cầm chặt trên tay.
Đêm không trăng tăm tối, chính là lúc thích hợp để giết người phóng hỏa.
Tề Ninh không định phóng hỏa, nhưng hắn chuẩn bị giết người.
Muốn làm kẻ sát nhân, không chỉ có mình hắn, mà còn có các dũng sĩ lúc trước giả vờ ngủ, vốn là diễn cho năm binh sĩ Bắc Hán kia xem, bọn họ cũng đã chuẩn bị sẵn sàng đi giết người.
Con người thường theo số đông, nếu như mọi người không ngủ, mấy tên binh sĩ Bắc Hán cũng không buồn ngủ, nhưng khi tất cả đều yên tĩnh, tất cả mọi người đều ngủ, thậm chí có người ngáy khò khò, năm tên binh sĩ kia muốn không ngủ cũng khó.
Tề Ninh nhập quan, tuy đã giao nộp bội đao và cung tên, nhưng rốt cuộc Tào Anh không lục soát trên thân thể mỗi người.
Không có đại đao, trường cung, nhưng có một số dũng sĩ giấu chủy thủ trong người.
Thanh Hàn Nhận của Tề Ninh được giấu trong giày, càng khó bị phát hiện.
Nếu chỉ đơn giản là đi qua một trạm gác, đương nhiên Tề Ninh không cần đích thân ra tay.
Cho dù đi thẳng một đường, thực sự vượt qua dãy Tần Lĩnh, với chỉ mười mấy người như thế này, thì cũng có thể làm được gì ở Tây Bắc?
Điều Tề Ninh muốn làm, là hoàn toàn phá hủy trạm gác, không để lại một người sống sót.
Đoàn Thương Hải thống lĩnh tinh binh Sở quốc ở ngay phía sau Tề Ninh, xuất phát sau Tề Ninh hai ngày, nếu như hắn không thể phá hủy trạm gác, thì đương nhiên binh mã phía sau không thể đi qua Tử Ngọ đạo.
Trước lúc lên đường, Tề Ninh cũng đã sắp xếp mọi việc chu đáo, đến khi cả đội tiến vào Tử Ngọ đạo, hắn mới nói rõ kế hoạch cho mọi người biết.
Tuy nói những dũng sĩ này đều dũng mãnh, có thể lấy một chọi mười, nhưng Tề Ninh cũng không có ý định lập tức tập kích binh sĩ Bắc Hán ngay sau khi vừa qua trạm gác.
Hắn biết, cho dù binh sĩ Bắc Hán tin đoàn người của mình là sứ đoàn tới Hàm Dương, nhưng cũng sẽ không thiếu cảnh giác, trên thực tế cũng đúng như hắn dự liệu. Sau khi nhập quan, Tào Anh và đám binh sĩ trạm gác cũng không lơ là đề phòng, nếu như động thủ lúc đó, cho dù có thể giết chết mười mấy người của đối phương, nhưng phía mình nhất định cũng có tổn thất. Hơn nữa, lúc đó cũng chưa thăm dò được, rốt cuộc ở trạm gác có tất cả bao nhiêu người, có còn binh sĩ ẩn núp đâu đó hay không, đương nhiên là không thể hành động thiếu suy nghĩ.
Hiện giờ hắn đã hoàn toàn nắm rõ tình hình ở trạm gác, thừa dịp bóng đêm, sẽ quay trở lại, nhân lúc đối phương không đề phòng, đột nhiên tập kích. Như vậy, đương nhiên có thể giảm tổn thất của phía mình đến mức thấp nhất.
Âm thầm như một bóng ma, Tề Ninh lần dò tới bên cạnh mấy tên binh sĩ Bắc Hán, phát hiện có bốn tên đã ngủ say, nhưng có một tên hơi trở mình, vẫn chưa ngủ say. Cũng may cho hắn, là tên binh sĩ đó không nhận ra Tề Ninh len lén tới gần, nhưng với động tác trở mình đó, gã hơi nheo mắt, nhận ra một bóng người đang tới gần.
Thân đang ở tiền tuyến, tính cảnh giác đương nhiên cao hơn binh sĩ bình thường, tuy còn không rõ tình thế, nhưng phản ứng đầu tiên của gã là giơ tay nắm lấy bội đao, một tay vừa giơ lên, đã cảm thấy hoa mắt, còn chưa kịp nghĩ nhiều, cổ họng đã đau nhói, một mũi chủy thủ đã đâm thẳng vào cổ họng của gã.
Người ra tay, đương nhiên là Tề Ninh.
Hiện nay, với tu vi võ công của mình, Tề Ninh đã đã thể so chiêu với cao thủ hạng nhất trên giang hồ, đây chỉ là một tên lính thường, xét về võ công, đối với Tề Ninh, gã chỉ là một con kiến mà thôi.
Thanh Hàn Nhận chém sắt như chém bùn, sau cú đâm gọn gàng lưu loát, rồi nhanh chóng rút ra, máu tươi từ vết thương phun ra, Tề Ninh cũng không liếc nhìn kỹ, vừa rút chủy thủ ra, liền tiện tay rạch một cái, trong nháy mắt, mũi Hàn Nhận lại cắt đứt cổ họng của một binh sĩ khác nằm trên mặt đất.
Đây không phải là một cuộc luận võ, đương nhiên Tề Ninh không quan tâm đến cái gọi là đạo nghĩa giang hồ.
Năm tên binh sĩ Bắc Hán, ngoại trừ tên đầu tiên có phát hiện, bốn người còn lại, hầu như đều bị cắt cổ lúc đang ngủ. Tề Ninh ra tay gọn gàng dứt khoát, vào lúc này, đương nhiên không thể động lòng nương tay.
Tề Ninh giải quyết xong năm tên binh sĩ, đám Kỷ Tiến Tài cũng đã sớm đứng dậy rồi. Tề Ninh cấp tốc đi tới bên cạnh xe ngựa, mà các binh sĩ cũng xúm lại bên chiếc xe. Kỷ Tiến Tài bước tới, xé rách giấy niêm phong trên một chiếc rương, mở rương ra, phía trên là một lớp lụa vàng, ông ta vén lớp lụa lên, phía dưới là rơm rạ, Kỷ Tiến Tài trầm giọng nói:
- Mọi người lấy binh khí đi!
Ông ta đưa tay vào rương, lấy ra một thanh đại đao.
Đại đao không có vỏ, lưỡi đao rất sắc bén.
Mọi người không nhiều lời, ai nấy đều lấy ra binh khí từ trong rương. Trong rương có rơm rạ, là vì lo lắng xe ngựa chạy xóc nảy, binh khí chạm vào nhau phát ra tiếng loảng xoảng của kim loại, như vậy đương nhiên sẽ khiến binh sĩ trạm gác cảnh giác.
Trước đó Tề Ninh đã dự liệu binh sĩ Bắc Hán sẽ tuyệt đối không để “sứ đoàn” mang theo binh khí qua ải, cho nên hắn đã nghĩ cách giấu binh khí nơi nào đó.
Binh sĩ Bắc Hán có soát người hay không, trước đó đương nhiên không thể xác định, cho dù không soát người, đại đao cũng không thể giấu trên người, đối với binh sĩ hàng ngày tiếp xúc với đao kiếm, sẽ rất dễ nhận ra, trên người người khác có đao kiếm hay không.
Tề Ninh cũng từng nghĩ tới việc giấu binh khí trên chiếc xe ngựa chở mấy cô gái, nhưng làm như vậy không an toàn, không ai có thể đảm bảo, binh sĩ Bắc Hán sẽ không kiểm tra chiếc xe ngựa kia.
Nhưng rốt cuộc Kỷ Tiến Tài đề nghị giấu binh khí vào rương, bên ngoài dán giấy niêm phong, dù sao chuyện có liên quan tới quan hệ giữa hai nước, binh sĩ Bắc Hán chưa chắc dám quyết đoán mở rương ra. Nếu như binh sĩ Bắc Hán khăng khăng đòi mở rương, thì phía Tề Ninh có thể quay về, lấy việc quay về để uy hiếp bọn chúng. Kỷ Tiến Tài phán đoán, mấy tên binh sĩ trạm gác nhất định sẽ không dám vì mình mà khiến sứ đoàn Sở quốc quay về, Tề Ninh chấp nhận đề nghị của Kỷ Tiến Tài, mà trên thực tế, chiêu này của ông ta đã có hiệu quả.
- Các ngươi đều nhìn thấy vị trí tháp canh của trạm gác rồi.
Tề Ninh tập họp mọi người, thấp giọng nói:
- Lần này chúng ta hành động, trước hết phải giải quyết gọn số lính canh trên tháp, để tránh bọn chúng truyền ra tín hiệu.
- Tước gia, tiểu nhân quan sát kỹ, thấy trên tháp canh có một ngọn đuốc, nếu vào ban ngày, hẳn là lấy khói lửa làm hiệu.
Một binh sĩ khoảng ba mươi tuổi, thoạt nhìn có vẻ dày dạn kinh nghiệm ở bên cạnh, nói:
- Ngoài ra, ở góc phía bắc của tháp canh, có đặt một cái sừng trâu, nếu thuộc hạ không lầm, chiếc sừng trâu kia cũng dùng để đưa tin. Ban đêm đốt lên khói lửa, cũng không có người thấy, bởi vậy chắc chắn bọn chúng có thể thổi sừng trâu thông báo cho trạm gác kế tiếp.
Lại có người nói:
- Tước gia, tiểu nhân từng thấy sừng trâu như vậy rồi, cũng từng nghe người ta thổi nó, một khi đủ hơi để thổi, âm thanh của nó truyền đi rất xa.
- Không sai.
Tề Ninh vỗ vai người kia, nói:
- Bởi vậy chúng ta không thể cho bọn chúng có cơ hội truyền tín hiệu.
Hắn hỏi:
- Ban thái thú nói, trong số các ngươi, có mấy người có tài bắn cung rất cao, bách phát bách trúng, là mấy người nào?
Binh sĩ lên tiếng trước đó, nói:
- Tước gia, Ban thái thú phái tiểu nhân tới, là có nhiệm vụ bắn chết lính gác, thuật bắn tên của tiểu nhân chưa dám nói bách phát bách trúng, tuy nhiên trước đó ở bên kia, tiểu nhân đã tính ra, trong vòng hai trăm bộ, tiểu nhân tin rằng có thể bắn chết lính gác trên tháp canh.
Tề Ninh cười nói:
- Hóa ra thuật bắn tên của ngươi rất cao! À, ngươi tên là gì?
- Tiểu nhân là Tần Kiếm!
Người kia vội đáp:
- Là chữ “Kiếm” trong trường kiếm.
Tề Ninh cười nói:
- Cái tên này rất có sát khí.
- Cha của tiểu nhân là thợ rèn.
Tần Kiếm gãi đầu, cười ngây ngô nói:
- Ngày tiểu nhân sinh ra, cha của tiểu nhân vừa đúc xong một thanh kiếm, cho nên đặt tên tiểu nhân là Tần Kiếm.
Sắp hành động, tuy các binh sĩ đều là người dũng mãnh, nhưng trong lòng vẫn hơi căng thẳng, đột nhiên nghe Tần Kiếm kể như vậy, mọi người đều mỉm cười, bầu không khí lập tức dịu đi một chút.
- Còn có ai tự tin về thuật bắn cung của mình không?
Các binh sĩ nhìn nhau, im lặng một chút, rồi từ phía sau, một người bước ra, chắp tay nói với Tề Ninh:
- Tước gia, Lục Kháng xin được ra sức.
Tề Ninh nhìn người nọ, cười nói:
- Có ngươi ra tay, vậy là ta yên tâm rồi!
Tề Ninh biết người có tên Lục Kháng này, trước kia, khi giành được chức thống lĩnh Hắc Lân doanh, Tề Ninh bắt đầu cải tổ Hắc Lân doanh, Đoàn Thương Hải liền triệu tập tàn quân của Hắc Lân doanh. Năm xưa, Hắc Lân doanh huyết chiến với Huyết Lan quân dưới trướng Bắc Đường Khánh, hầu như toàn quân chết trận, chỉ còn lại mười mấy người mà thôi. Những người này được triều đình bố trí thích đáng, phân công tới các nơi làm quan tướng, khi Đoàn Thương Hải gửi thư triệu tập, những quan binh cũ của Hắc Lân doanh đều lập tức từ quan tập kết, theo Đoàn Thương Hải và Triệu Vô Thương xây dựng lại Hắc Lân doanh.
Lục Kháng vốn là hiệu úy Trường Thủy, y cũng từ quan trở lại Hắc Lân doanh, vẫn luôn hỗ trợ Đoàn Thương Hải huấn luyện binh sĩ Hắc Lân doanh.
Lần này Tề Ninh tới Tây Xuyên, Đoàn Thương Hải điều một trăm tinh binh Hắc Lân doanh đi theo. Lục Kháng ở trong số này.
Tề Ninh dẫn đội vào Tử Ngọ đạo, trong bốn mươi người dưới quyền, phân nửa là quan binh địa phương do Ban Vân chọn ra, những người này đều có kinh nghiệm tác chiến ở vùng núi, hơn nữa đều rất dũng mãnh, mà nửa còn lại, là người của Hắc Lân doanh. Một trăm người đi theo, vốn là binh sĩ tinh nhuệ của Hắc Lân doanh, Đoàn Thương Hải lo lắng cho sự an nguy của Tề Ninh, chọn ra hai mươi người trong một trăm người, càng là tinh nhuệ trong tinh nhuệ.
Lục Kháng vốn là người của Hắc Lân doanh, trước kia trải qua vô số huyết chiến trên sa trường, được liệt vào trong số những người giỏi cưỡi ngựa bắn cung của Hắc Lân doanh, đao thương đều thành thạo. Nhiều năm trôi qua, tuy Lục Kháng đã gần bốn mươi, nhưng tài nghệ không hề giảm sút.
Lục Kháng chắp tay, mỉm cười nói với Tần Kiếm:
- Tần huynh đệ, trên tháp canh có hai tên, đến lúc đó ta và ngươi cùng bắn, mỗi người giải quyết một tên, đừng để bọn chúng có bất cứ cơ hội nào.
Tần Kiếm biết Lục Kháng là người do Tề Ninh đưa từ kinh tới, nhưng lại không biết Lục Kháng là người của Hắc Lân doanh, càng không biết những gì Lục Kháng đã trải qua, nhưng vừa nhìn đã biết người này không hề đơn giản, gã cũng chắp tay nói:
- Xin nghe theo phân phó của ngươi.
Biết Lục Kháng là người của Tề Ninh, còn mình chỉ là một binh sĩ địa phương, đương nhiên không thể so sánh, bởi vậy lời lẽ của gã hết sức khách khí.
- Hai vị, cung tên giấu ở trong một cái rương khác.
Kỷ Tiến Tài vội nói, ông ta cũng biết, hành động đêm nay, việc bắn chết hai binh linh trên tháp canh liên quan tới sự thành bại, nhiệm vụ quan trọng đặt trên hai người này, cho nên cũng có phần khách khí đối với hai người.
Thấy Kỷ Tiến Tài cũng cầm đao trên tay, Tề Ninh cười nói:
- Kỳ chủ bạc, ngươi và mấy vị cô nương ở lại bên này, ta để lại hai người bảo vệ cho ngươi, những người khác đều theo ta đi đánh trạm gác.
- Tước gia, tuy ty chức là quan văn, nhưng thường ngày cũng có luyện qua đao pháp.
Kỷ Tiến Tài liền nói:
- Nhân thủ của chúng ta cũng không nhiều, thêm một người, thêm một phần sức lực, ty chức…
Tề Ninh mỉm cười nói:
- Ai có việc của người nấy, xin Kỷ chủ bạc đừng hiểu lầm, cũng không phải là ta xem thường võ công của ngươi, mà là ngươi giả trang sứ giả, đường phía sau còn dài, nếu sơ xuất bị thương, sau đó sẽ khá phiền phức. Đêm nay chúng ta tập kích bất ngờ, nhân thủ cũng đủ, không cần lo lắng.
Kỷ Tiến Tài biết Tề Ninh cũng vì muốn tốt cho mình, liền gật đầu nói:
- Vậy thì ty chức ở chỗ này chờ tước gia và chư vị chiến thắng trở về.
Làm biên quân thì rất khổ cực, đây là điều mà người tham gia quân ngũ nào cũng biết.
Thật ra so với biên quân trấn thủ ở biên cương phía bắc, các quan binh trấn giữ ở hiệp đạo trên Tần Lĩnh còn cảm thấy mình khổ gấp mấy lần, hàng ngày phạm vi hoạt động chỉ quanh quẩn ở trạm gác và phụ cận, hơn nữa quân quy nghiêm ngặt, không thể uống rượu, càng không thể gần nữ sắc.
Không được uống rượu vì sợ làm hỏng việc, nhưng có người thực sự không hiểu tại sao lại không được gần nữ sắc.
Tuy biên quân đóng ở biên giới phía bắc cũng bị nghiêm cấm uống rượu, nhưng hàng năm triều đình đều sẽ đày phụ nữ phạm tội tới biên cương, thế nhưng ở trạm gác này, quanh năm khó có dịp nhìn thấy một nữ nhân.
Quân canh giữ hiệp đạo thay phiên nửa năm một lần, nửa năm này đối với mỗi người đều là sự giày vò, nhưng không ai dám lơ là, vì không biết người Sở quốc sẽ đột nhiên xuất hiện lúc nào.
Điều duy nhất khiến binh lính trạm gác hài lòng, đó là quân lương của bọn họ vượt xa biên quân phương bắc, vì những lượng bạc đó, bọn họ đành phải tiếp tục nhẫn nại.
Ngày hôm nay, tâm trạng của Tào Anh không tệ, thân ở trạm gác trên dãy Tần Lĩnh, bốn phía chỉ có vách núi sừng sững, cho dù trong túi chứa đầy bạc, muốn mua một vò rượu cũng không có để mà mua, mà Tào Anh lại là một tửu đồ.
Thích rượu mà không được uống, đương nhiên là một loại hành hạ, hôm nay sứ đoàn Sở quốc rất chu đáo, tặng cho y một vò rượu, Tào Anh rất muốn mở ra ngay tại chỗ, thoải mái chè chén, nhưng phải cố gắng kìm chế. Đợi tới lúc trời tối, y gọi hai ba người tới, mặc dù rót ít, uống chậm, nhưng chưa tới một canh giờ, vò rượu đã thấy đáy.
Tào Anh vốn muốn uống vò rượu này một mình, nhưng y cũng biết, nếu mình ăn mảnh, không chừng sẽ có người tiết lộ chuyện này ra ngoài, kéo vài người có vai trò tương đối quan trọng ở trạm gác tới cùng uống, sẽ không phải lo lắng sau này rước lấy phiền phức.
Rượu là rượu ngon, trong lúc uống, mùi thơm nức mũi, thế nhưng sức ngấm của rượu ngon cũng khá mạnh, nếu như trước kia, thì cũng không có tác dụng quá lớn, nhưng mấy tháng rồi không uống rượu, hôm nay đột nhiên uống vào, mấy người liền say khướt.
Tuy say rượu, nhưng Tào Anh không quên chức trách, y căn dặn thủ hạ đề phòng nghiêm ngặt, không được có chút sơ sẩy nào. Vốn định quay về doanh trại nghỉ ngơi, nhưng chân bước không vững, bước đi lảo đảo, Tào Anh cũng không muốn để người khác dìu, chỉ sai người lấy chăn, nằm xuống chiếc giường trải cỏ khô cạnh tường đá, mấy người khác cũng bắt chước làm theo.
Khi trạm gác của Tào Anh ngủ say, Tề Ninh đã dẫn người lần dò tới doanh trại này.
Dù sao việc canh phòng trên hiệp đạo ở Tần Lĩnh cũng không phải tầm thường, tuy đã là nửa đêm, phần lớn mọi người trong doanh trại đều đã ngủ say, nhưng vẫn bố trí hai người trực. Ban đêm, hai binh sĩ mặc áo ấm, một trái một phải canh gác ở hai phía doanh trại.
Tề Ninh dẫn mười mấy người như những bóng ma trong bóng đêm, lặng yên không một tiếng động lần mò tới gần doanh trại, bên ngoài doanh trại treo đèn lồng, ngọn đèn lung lay lúc lắc trong gió đêm.
Hai binh sĩ Bắc Hán hiển nhiên là ban ngày đã ngủ rồi, trông dáng vẻ cũng không quá mệt mỏi.
Một đám người rùn thấp người xuống, dừng lại ở một đống đá cách doanh trại không xa, tay cầm trường cung, lưng đeo cung tên, Lục Kháng ghé sát lại, thấp giọng nói:
- Tước gia, ta và Tần Kiếm bắn chết hai tên gác đêm trước, sau đó mọi người tiếp tục ra tay.
Tề Ninh thầm nghĩ, đây cũng là biện pháp tốt nhất, hắn thấp giọng nói:
- Tất cả cẩn thận.
Lục Kháng mỉm cười, hết sức tự tin, xoay người lại, ra hiệu với Tần Kiếm vẫn theo sát phía sau, Tần Kiếm khẽ gật đầu, hai người nằm sấp trên mặt đất, chậm rãi bò tới gần doanh trại.
Tề Ninh cầm đao, cùng mọi người chờ đợi.
Lục Kháng và Tần Kiếm đều là cung thủ lão luyện, trước khi bắn tên, đương nhiên hai người cũng phải phán đoán chính xác khoảng cách.
Hiệp đạo này ban ngày đã u ám, ban đêm càng tối om, giơ tay ra không thấy năm ngón, cũng may có đèn lồng chỉ đường, thật sự giúp ích rất lớn cho hai người. Tần Kiếm tới vị trí thích hợp, Lục Kháng thấp giọng nói nhỏ mấy câu với Tần Kiếm, rồi mới tiếp tục rón rén đi tới trước, muốn đối phó tên còn lại. Tần Kiếm nằm trên mặt đất, chú ý động tĩnh phía Lục Ngạn, thấy Lục Kháng di chuyển tới trước chừng mười bước thì dừng lại.
Tần Kiếm nhổm dậy, thân thể nửa quỳ, giương cung cài tên, gã đang ở trong bóng tối đen kịt, hơn nữa làm nhiệm vụ yểm trợ, binh sĩ Bắc Hán hoàn toàn không chú ý tới động tĩnh phía bên này, nhưng gã cũng không lập tức bắn tên, mà chờ tín hiệu của Lục Kháng.
Hai binh sĩ Bắc Hán trực đêm, muốn giải quyết trót lọt, đương nhiên là phải đồng thời xuất thủ, trong nháy mắt bắn chết hai tên lính kia.
Tần Kiếm nhắm vào một tên binh sĩ Bắc Hán, ngón tay vững vàng, một làn gió đêm thổi qua, chợt nghe một tiếng huýt sáo nhỏ vang lên, Tần Kiếm không chút do dự, buông ngón tay, mũi tên nhọn như xé không khí, bắn xuyên qua người tên binh sĩ Bắc Hán kia, mà hầu như trong cùng một lúc, Lục Kháng cũng bắn tên. Hai tên binh sĩ Bắc Hán hoàn toàn không có phản ứng, chỉ nghe hai tiếng “Phụp, phụp”, hai mũi tên đã hầu như đồng thời cắm vào cổ họng bọn họ
Hai tên binh sĩ không kêu được một tiếng, đều ngã nhào xuống đất.
Nhìn thấy hai tên binh sĩ Bắc Hán ngã xuống, Tề Ninh lập tức vung tay lên, dẫn đầu lao về phía doanh trại, phía sau là đám dũng sĩ như sói như hổ. Doanh trại này có sáu gian phòng, trước đó Tề Ninh đã nắm rõ, phía hắn có tổng cộng ba mươi chín người, ngoại trừ đội của hắn có chín người, năm đội khác, mỗi đội sáu người. Mọi người đều biết gian phòng mình phải xử lý là gian nào, mỗi đội đều nhanh chóng tìm tới trước gian phòng mục tiêu, cũng không lập tức phá cửa xông vào, mà đứng trước cửa sổ xác định tình huống trong nhà, rồi nhìn về phía Tề Ninh chờ lệnh.
Tề Ninh khẽ gật đầu, các đội liền có người tới trước cửa gỗ, dùng chủy thủ, lặng yên không một tiếng động, đẩy chốt gài ra.
Doanh trại này hết sức đơn sơ, khe cửa khá rộng, muốn đẩy chốt gài ra là việc dễ dàng. Hơn nữa, thậm chí có hai gian phòng không cài chốt. Sau khi đẩy chốt gài ra, các đội đều hướng về phía Tề Ninh ra hiệu, Tề Ninh giơ tay lên, rồi làm động tác chém xuống, mọi người không chút do dự, nhẹ nhàng như những bóng ma đẩy cửa ra, đi vào trong.
Vẻ mặt Tề Ninh lạnh lùng và nghiêm nghị, một lát sau, hắn nghe trong phòng có tiếng kêu khác lạ, nhưng trong nháy mắt, tiếng kêu đã im bặt. Sau một lát, các đội lần lượt từ trong phòng đi ra, tới trước mặt Tề Ninh bẩm báo.
Đã là nửa đêm, hơn nữa khí trời lạnh giá, binh sĩ Bắc Hán trong doanh trại vốn đã ngủ từ lâu, mọi người ra tay giải quyết trong lúc bọn chúng còn ngủ say.
Chỉ có điều, có một phòng trong số đó xảy ra một tình huống bất ngờ nho nhỏ, có một binh sĩ Bắc Hán đang nửa mê nửa tỉnh, phát hiện có người tiến vào, vừa kêu lên, thì trong nháy mắt đã bị cắt đứt cổ họng, đó là tiếng kêu mà Tề Ninh nghe được.
Doanh trại này có tổng cộng mười sáu người, thật ra chỉ chia ra ngủ ở bốn gian phòng, có hai gian không có người.
Hầu như là trong khoảnh khắc đã giải quyết xong tất cả binh sĩ Bắc Hán trong doanh trại, để đề phòng sơ xuất, Tề Ninh bảo mọi người kiểm tra xung quanh doanh trại một lượt, xác định không còn người sống sót, lúc này mới sắp xếp lại đội ngũ.
Doanh trại này cách trạm gác bên kia chỉ vài dặm, đi một lát đã tới.
Tề Ninh tập họp mọi người lại, thấp giọng nói:
- Các huynh đệ đều đã biết, hoàng thượng lo cho thiên hạ, muốn thống nhất giang sơn, chỉ có nhất thống thiên hạ, trăm họ mới có thể an cư lạc nghiệp, không phải khổ sở vì chuyện đao binh. Đánh chiếm Hàm Dương, Đại Sở ta sắp nhất thống thiên hạ rồi, mà muốn chiếm Hàm Dương, đên nay chúng ta nhất định phải giải quyết trạm gác này.
Bỗng hắn ngừng lời, cười nói:
- Mà thôi, không nói những vấn đề lớn lao với các ngươi, các ngươi nghe đây, chúng ta làm thông suốt Tử Ngọ đạo, đánh lấy Hàm Dương, sau đó các ngươi sẽ được hưởng vinh hoa phú quý bất tận, bất luận là vàng bạc, mỹ nhân, hay là làm rạng rỡ tổ tông, ta đảm bảo các ngươi đều có thể đạt được. Ai lập được chiến công càng nhiều, đến lúc đó càng được hưởng thụ nhiều, nói như vậy, các ngươi nghe có rõ ràng không?
Mọi người liếc nhìn nhau, ai nấy đều lộ vẻ tươi cười, một tên binh sĩ cười nói:
- Tước gia, tiểu nhân xuất thân là nông dân, nếu như lập được đại công, có thể cưới một tiểu thư nhà quan hay không? Như vậy thực sự là rạng rỡ cửa nhà!
- Tiểu thư nhà quan?
Tề Ninh cười ha hả:
- Muốn mấy tiểu thư nhà quan? Ngươi lập được chiến công, ta tâu với triều đình phong chức cho ngươi, lúc đó ngươi là quan tướng, thích tiểu thư nhà nào, mà không chắc chắn, thì nói cho ta biết, ta sẽ giúp ngươi xử trí.
Mọi người càng mỉm cười.
- Anh dũng giết địch, sau này hưởng phú quý.
Tề Ninh nắm chặt đao trên tay, hô:
- Đi!
Lời khích lệ của Tề Ninh, khiến mọi người càng dâng trào nhiệt huyết, thầm nghĩ lần này theo quốc công hành động, chỉ cần anh dũng giết địch, quốc công ở bên cạnh thấy rõ ràng, gần quan được ban lộc, có tiểu quốc công chiếu cố, còn lo gì không thăng quan tiến tước? Lập tức cả đám càng bừng bừng khí thế như sói như hổ.
Phía trạm gác hoàn toàn yên lặng.
Trên tường đá có bốn năm binh sĩ trực, đốt mấy ngọn đuốc, dường như đã bao nhiêu năm rồi làm như vậy, chú ý động tĩnh phía nam của hiệp đạo.
Binh sĩ đóng ở chỗ này, tiền lương không ít, trách nhiệm đương nhiên cũng rất trọng đại. Hơn nữa, hầu như mỗi người đều được nhắc nhở, tuy đã mười năm rồi, kẻ địch không tập kích từ phía nam, nhưng tuyệt đối không được vì vậy mà lơ là, tính cảnh giác của binh sĩ ở trạm gác này thật sự rất mạnh. Thế nhưng từ khi Sở Hán lập quốc. các hiệp đạo trên Tần Lĩnh hầu như trở thành nơi hoang dã, chó ăn đá gà ăn muối, cho dù trong thời gian ba năm đại chiến Tần Hoài, cũng không có người của Sở quốc xuất hiện trên hiệp đạo ở bên này dãy Tần Lĩnh.
Tuy hàng ngày binh sĩ canh giữ đều tập trung tinh thần thực hiện nhiệm vụ, nhưng thật sự thì trong lòng vẫn buông lỏng khá nhiều, không ai nghĩ rằng, sẽ gặp phải người Sở quốc ở nơi này.
Trên tháp canh, hai binh sĩ mặc áo bông dày, họ đứng trên cao, đương nhiên chịu nhiều ảnh hưởng của gió đêm, tuy còn một thời gian ngắn nữa mới tới mùa đông, nhưng gió đêm quất trên mặt cũng rất lạnh lẽo.
Một tên binh sĩ dựa vào trụ gỗ ở một góc tháp canh, liếc nhìn chiếc sừng trâu, trong lòng hơi nghi hoặc, chiếc sừng trâu này treo ở đây đã nhiều năm, nhưng trước sau chưa được thổi lần nào, thậm chí gã hoài nghi, không biết chiếc sừng trâu này còn có thể thổi được hay không.
Trực đêm, sẽ được phân phát một ít lương khô làm bữa ăn khuya, một tên binh sĩ khác lần mò trong cái túi nhỏ, lấy ra một nắm đậu rang bỏ vào miệng, thắt lại đai lưng. Đã nửa đêm, còn phải chịu đựng mấy canh giờ nữa mới được thay phiên, nếu không vì quân lệnh như sơn, hơn nữa được hưởng lương cao, chẳng ai ngu gì đồng ý chạy tới cái nơi quỷ quái này làm lính canh. Gã thầm tính toán, mấy tháng nữa sau khi được thay phiên rời khỏi nơi này, có nên tìm kiếm quan hệ, chạy chọt để không phải tới nơi này nữa.
Miệng nhai đậu rang, càng nhai càng thơm, gã binh sĩ lại đưa tay bốc một nắm, đang định bỏ vào miệng, lại có người vỗ vai, gã quay đầu lại, thấy đồng bạn của mình cau mày, chỉ xuống phía dưới:
- Đó là ai?
Gã binh sĩ kia nhìn theo ngón tay của đồng bạn, nhưng hoàn toàn không thấy gì, lại cảm thấy cổ họng của mình đột nhiên bị lấp kín, dường như có vật gì đâm vào cổ họng, trong lúc nhất thời, thậm chí gã không cảm thấy đau đớn, chỉ cảm thấy trong nháy mắt, toàn thân như rơi vào hầm băng, vô cùng khó chịu, khóe mắt gã nhìn thấy một mũi tên, không biết từ lúc nào đã xuyên qua cổ họng đồng bạn của mình. Con ngươi của gã co rút lại, gã cố gắng vịn vào lan can tháp canh, muốn kêu lên, nhưng không kêu được, cả người mềm nhũn ngã vào thành lan can.
Hai mũi tên bắn ra đều trúng đích.
Hai binh sĩ trên tháp canh thậm chí không nhìn rõđược kẻ địch là ai, đã bị bắn trúng cổ họng.
Nhiều năm qua, binh sĩ trạm gác đã quen tập trung chú ý ở phía nam trạm gác, không ai ngờ kẻ địch lại đánh lén từ phía sau, khi binh sĩ Bắc Hán phát hiện tình huống, mười mấy lính Sở đã vung đại đao lao tới rồi.
Không có tiếng hô“giết, giết”, nhưng như vậy lại càng kinh khủng.
- Kẻ địch tấn công! Kẻ địch tấn công!
Binh sĩ Bắc Hán trên tường đá lớn tiếng hô lên, khiến rất nhiều binh sĩ Bắc Hán đang mơ mơ màng màng lập tức tỉnh táo lại.
Thường ngày, đương nhiên binh sĩ Bắc Hán ở trạm gác được huấn luyện, một khi xuất hiện tình huống nguy cấp, mọi người cũng biết mình nên làm gì.
Nhưng cho tới nay, trong tình huống huấn luyện của binh sĩ Bắc Hán, quân xanh Sở quốc đều đến từ phía nam, nếu kẻ địch đến từ phía nam, mỗi binh sĩ Bắc Hán sẽ biết nhiệm vụ của mình, biết mình cần phải làm gì, nhưng bây giờ kẻ địch lại từ hậu phương kéo tới, nếu theo các bước huấn luyện trước đó mà làm, thì hoàn toàn không có tác dụng.
Điều khiến binh sĩ Bắc Hán kinh hãi là, trước tiên kẻ địch đã bắn chết hai lính gác trên tháp canh, cho thấy rõ ràng kẻ địch muốn đuổi tận giết tuyệt.
Lính gác trên tháp canh bị giết, thì không thể truyền đi bất cứ tín hiệu gì, cho dù quát to cỡ nào, cũng không thể gọi được viện binh tới.
Trong bóng đêm, kẻ địch như bầy sói lao tới, không nói hai lời, vung đao liền chém.
Quan binh ở trạm gác có ba mươi người, hoàn toàn không chiếm ưu thế về số lượng, hơn nữa đối phương đánh tới bất ngờ, không kịp phòng bị, binh sĩ Bắc Hán còn chưa chuẩn bị sẵn sàng, đã bị giết chết.
Cũng may, dù sao những binh sĩ này cũng đã trải qua huấn luyện, sau một hồi rối loạn, có người lạnh lùng kêu lên:
- Cung thủ yểm hộ, các huynh đệ đừng hốt hoảng!
Trên đầu tường, mấy cung thủ giương cung cài tên, trong bóng đêm, chỉ thấy bóng người chớp động, trong lúc nhất thời cũng không rõ ràng lắm người nào là kẻ địch, người nào là phe mình, nguy hiểm hơn nữa là, khi phân biệt được, thì đối phương đã tới sát một bên, chém giết binh sĩ Bắc Hán. Cung thủ sợ làm đồng bạn bị thương, cũng không dám tùy tiện bắn tên, thật vất vả tìm được khe hở bắn ra mấy mũi tên, đối phương đã liên tục tránh thoát bằng thân pháp nhanh nhẹn.
Sau khi say rượu, Tào Anh ngủ rất say, y mơ hồ nghe có tiếng động, còn chưa rõ chuyện gì xảy ra, đã nghe bên cạnh có người kêu lên:
- Hiệu úy, hiệu úy, mau tỉnh lại, có địch đột kích!
Tào Anh vừa nghe bốn tiéng “có địch đột kích”, lưng đổ mồ hôi lạnh, trong nháy mắt tỉnh rượu, lồm cồm bò dậy. Trong bóng đêm, y chỉ thấy bóng người xen kẽ, bốn phía đang hung hăng chém giết lẫn nhau.
Y lập tức ngẩng lên nhìn về phía tháp canh, thấy hai binh sĩ trên tháp không nhúc nhích, liền biết không ổn. Tào Anh rút bội đao ra, quát to:
- Ngăn bọn chúng lại!
Y cũng không nhiều lời, liền lao về phía tháp canh.
Dù sao y là người trấn thủ ở trạm gác này, nếu trạm gác này bị người Sở lấy được, y sẽ bị trừng phạt.
Tào Anh biết quân pháp vô tình, nếu như trạm gác rơi vào tay kẻ địch một cách im hơi lặng tiếng, đến lúc đó cấp trên hỏi tội, vợ con y tất nhiên khó giữ được. Nhưng nếu y có thể kịp thời truyền tín hiệu đi, để trạm gác phía sau biết có địch đột kích, thì cho dù rốt cuộc trạm gác này không giữ được, thậm chí y chết trận ở chỗ này, thì gia quyến của y sẽ bình yên vô sự.
Lúc này Tào Anh cũng không có ý niệm nào khác trong đầu ngoài ý nghĩ trèo lên tháp canh, thổi sừng trâu lên.
Mấy tên binh sĩ Bắc Hán ở bên cạnh cũng hiểu ý định của y, lập tức đi theo bên cạnh y, lao về phía tháp canh. Hai binh sĩ địch xông tới, hai binh sĩ Bắc Hán ở phía sau lập tức xông lên ngăn trở, muốn tranh thủ thời gian cho Tào Anh.
Giống như một con thú dữ bị chọc giận, Tào Anh dẫn theo hai người vọt tới bên cạnh tháp canh, phía địch nhân hiển nhiên cũng phát hiện ý đồ của Tào Anh, năm sáu bóng người xông về phía này, định ngăn Tào Anh lại. Trong số các binh sĩ Bắc Hán cũng có người hiểu ra tình thế, có mấy người xông tới đối phó năm sáu người kia.
Tào Anh và hai binh sĩ Bắc Hán lao tới bên cạnh tháp canh, lập tức leo lên.
Tháp canh này có hai chiếc thang, Tào Anh dẫn đầu leo lên, phía sau cũng có một binh sĩ leo theo y, một binh sĩ Bắc Hán khác, theo chiếc thang phía bên kia cấp tốc leo lên.
- Phụp!
Một mũi tên nhọn xé không khí bắn tới, xuyên vào gáy tên binh sĩ kia, hai tay tên binh sĩ buông lỏng, từ trên thang gỗ rơi xuống đất.
Tào Anh kinh hãi, lại càng leo nhanh hơn, bỗng y cảm thấy trước mắt có bóng đen chớp động, thầm rùng mình, lập tức từ bên cạnh, một luồng khí lạnh ập tới, Tào Anh quay đầu lại nhìn, chỉ thấy một thanh đại đao đang chém xuống đầu mình.
Tào Anh vung đao chống đỡ, mắt thấy hai đao sắp chạm nhau, không ngờ cổ tay đối phương xoay đi, như có ma thuật, thanh đại đao kia vẽ thành nửa vòng tròn, Tào Anh còn chưa nhìn rõ đó là chiêu thức gì, đại đao đã xiên xiên chém tới, trong nháy mắt cắt đứt cổ họng của y, máu tươi bắn ra, cả người Tào Anh liền ngã nhào khỏi thang gỗ, rơi xuống phía dưới, va vào người tên binh sĩ phía dưới, cả hai đều rơi xuống đất như hai hòn đá.
Rất nhiều binh sĩ Bắc Hán thấy Tào Anh xông lên tháp canh, ban đêm bị một đám địch nhân tập kích, tuy đã giao thủ với đối phương, nhưng rất nhiều binh sĩ Bắc Hán vẫn còn chưa rõ rốt cuộc đây là tình huống gì, chỉ theo bản năng chống lại, trong lòng trông mong Tào Anh thổi chiếc sừng trâu lên, lúc này bọn họ nhìn thấy Tào Anh đã bị chém chết, liền mất hết can đảm, rất nhiều người kinh hồn táng đởm, rơi vào tuyệt vọng.
Người chém chết Tào Anh, đương nhiên là Tề Ninh.
Hắn biết sau khi binh sĩ trên tháp canh bị bắn chết, tất nhiên những người khác sẽ muốn lên tháp canh để truyền tín hiệu, cho nên sau khi lao tới, hắn canh giữ ở gần tháp canh.
Tào Anh bị giết, ý chí chiến đấu của tất cả binh sĩ Bắc Hán hoàn toàn sụp đổ. Ngược lại, đám binh sĩ Sở quốc muốn lập công trước mặt tiểu quốc công, ai nấy đều hung hãn, vung đao không chút lưu tình. Họ vốn là tinh binh được tuyển chọn trong số những binh sĩ tinh nhuệ, kinh nghiệm chiến đấu hết sức phong phú, một đám người cùng chém giết, tuy không đến mức như là hổ giữa đàn dê, nhưng vẫn chiếm ưu thế áp đảo. Binh sĩ Bắc Hán liên tục ngã xuống, thậm chí có người rốt cuộc buông đao đầu hàng, nhưng binh lính Sở cũng không nhận sự đầu hàng, vẫn vung tay chém xuống, giết ngay tại chỗ.
Thời gian chưa bằng tàn một nén nhang, trạm gác đã trở lại yên tĩnh, binh sĩ Bắc Hán canh giữ nơi này không ai may mắn tránh khỏi cái chết, có binh sĩ Bắc Hán muốn nhân đêm tối bỏ chạy, cũng đều bị đuổi giết đến cùng.
Tề Ninh lau vết máu trên đao, rồi bảo mọi người kiểm kê nhân số.
Cuộc tập kích đêm lần này, có thể nói là toàn thắng, nhưng vẫn có hai lính Sở chết trận, bốn người khác bị thương, ngoài ra, những người khác đều không bị tổn hao gì.
Tề Ninh sai người chất thi thể binh sĩ Bắc Hán lại một chỗ, sau đó sai mọi người mở cửa trạm gác ra, gọi bốn binh sĩ bị thương tới, nói:
- Bốn người các ngươi bị thương, lập được chiến công, sau khi qauy về kinh, ta nhất định sẽ báo công lao của các ngươi với triều đình.
Hắn lại nói với Lục Kháng:
- Lục Kháng, người phải nhớ kỹ tên của bốn huynh đệ bị thương này, cả tên của hai huynh đệ chết trận nữa, sau khi trở về, không những phải hậu táng bọn họ, mà còn trợ cấp xứng đáng cho gia quyến của họ.
Lục Kháng chắp tay đáp ứng.
- Bốn người các ngươi ở lại chỗ này.
Tề Ninh nói:
- Di thể của hai huynh đệ chết trận, chờ nhân mã phía sau tới, sẽ phái người đưa về Hán Trung, các ngươi ở đây chờ đại quân tới. Trước đó, ta giao trạm gác này cho các ngươi trông coi, tuyệt đối không để xảy ra sơ xuất nào.
Bốn thương binh nhìn nhau, một người nói:
- Tước gia, ở đây không đủ người, bọn tiểu nhân nguyện theo tước gia tiến về phía tây.
- Ta biết tâm ý của các ngươi.
Tề Ninh vỗ vai người kia:
- Tuy nhiên mấy người các ngươi mang thương tích trong người, phía trước còn có một tram gác nữa, nếu như bọn chúng phát hiện các ngươi bị thương, tất nhiên sẽ nghi ngờ, chúng ta quyết không thể mạo hiểm. Lần này các ngươi đã tỏ ra vô cùng dũng cảm, cũng lập được công lao khiến ta rất hài lòng, nếu còn muốn lập công, ta nhất định sẽ cho các ngươi cơ hội, nhưng không phải là lúc này.
Trong lòng mấy thương binh cũng hiểu rõ, Tề Ninh nói đúng, thương thế của bốn người tuy không nguy hiểm đến tính mạng, nhưng rất dễ bị nhìn ra, trước khi tới trạm gác kế tiếp, hoàn toàn không có khả năng khôi phục, nếu bị binh sĩ Bắc Hán ở trạm gác kế tiếp nhìn ra kẽ hở, quả thực sẽ liên lụy tất cả mọi người. Bởi vậy họ cũng không khăng khăng, đồng loạt quỳ xuống nói:
- Tước gia đi đường cẩn thận, bọn tiểu nhân ở chỗ này chờ đội nhân mã phía sau tới.
Tề Ninh mỉm cười, nhìn cửa trên tường đá đã mở ra, cũng không nói nhiều, phất tay nói:
- Đi!
Cuộc tập kích tối nay, Tề Ninh dẫn theo ba mươi tám dũng sĩ, hai người chết trận, bốn người bị thương, vậy là thiếu đi sáu người, hắn dẫn ba mươi hai người quay đầu lại hội hợp với Kỷ Tiến Tài.
Chỗ Kỷ Tiến Tài cũng không xảy ra điều gì không hay, ông ta thấy Tề Ninh trở về, liền hỏi thăm một số tình huống. Màn đêm buông xuống, mọi người tạm nghỉ ngay tại chỗ để khôi phục thể lực.
Sáng sớm hôm sau, đoàn người tiếp tục đi tới. Đi tới lúc hoàng hôn, mọi người nhìn thấy trạm gác thứ hai của Bắc Hán trên Tử Ngọ đạo.
Tất nhiên đoàn người bổn cũ soạn lại, binh sĩ Bắc Hán ở trạm gác thứ hai vô cùng kinh ngạc trước sự xuất hiện đột ngột của sứ đoàn Sở quốc, nhưng họ nghĩ trạm gác thứ nhất đã cho qua, bên này đương nhiên không có lý do gì ngăn cản, đoàn người thuận lợi qua trạm gác giống như lần trước.
Sau khi qua ải, mọi người trong đoàn lại quan sát tình hình trong trạm gác, thấy cũng không khác biệt gì nhiều so với trạm gác đầu tiên.
Tất cả mọi người lại ra tay lần thứ hai, nhưng có kinh nghiệm của lần trước. lần này mọi người ra tay càng thành thục. Sau khi qua trạm gác không tới một dặm đường, đoàn người liền dừng lại, đợi bóng đêm phủ xuống hoàn toàn, Tề Ninh dẫn mọi người quay lại, trước tiên giải quyết binh sĩ trong doanh trại, sau đó tiến tới trạm gác, vẫn như cũ đột nhiên tập kích, trước hết vẫn giải quyết hai tên binh sĩ trên tháp canh trước. Trận chém giết này toàn thắng, nhưng phía Tề Ninh có bốn người chết trận, bảy người bị thương, nặng nề hơn một chút so với thương vong lần trước.
- Tước gia, từ nơi này đi về phía bắc, còn ba mươi dặm nữa là có thể rời khỏi Tần Lĩnh, tiến vào Tây Bắc.
Trong lúc binh sĩ thu dọn chiến trường, Kỷ Tiến Tài tới nói:
- Theo ty chức biết, đường phía trước khá thông suốt, trong vòng một ngày là có thể dễ dàng ra khỏi Tần Lĩnh.
Tề Ninh khẽ gật đầu, nói:
- Sau khi thu dọn, cho các huynh đệ thay y phục của Bắc Hán.
Ngẩng đầu nhìn bầu trời đêm đã sắp bình minh, hắn nhẹ giọng nói:
- Kế tiếp, mới là thử thách thật sự!
Hàm Dương ở vùng trung bộ của Tần Xuyên, ở phía nam sông Vị Thủy, phía bắc núi Tông Sơn, nước từ trên núi chảy xuống Câu Dương, vì thế gọi là Hàm Dương.
Hàm Dương là thành thị lớn nhất của Tây Bắc, cũng là trung tâm của Tây Bắc. Ban đầu khi Bắc Hán lập quốc, Tây Bắc nhiều lần nổi dậy, triều đình Bắc Hán nhiều lần phái đại quân bình định Tây Bắc. Nhiều lần như vậy, những thế lực ở Tây Bắc có thể uy hiếp Bắc Hán, hầu như đều bị quét sạch. Cũng chính vì như vậy, tuy bộ tộc Bắc Đường lập quốc trước ở phía bắc, nhưng vì trong nước xảy ra nội loạn, không thể nam hạ chinh phạt, bởi vậy mà bộ tộc Tiêu thị có thời gian càn quét ở phương nam, thành lập đế quốc Đại Sở.
Mấy chục năm trước, Khuất Nguyên Cổ được điều tới Tây Bắc làm Trấn Tây đại tướng quân, từ đó, Khuất gia cũng bắt đầu đặt nền móng ở Tây Bắc.
Khuất Nguyên Cổ được điều nhiệm tới Tây Bắc, suy cho cùng, là vì bám váy quan hệ, em gái y xinh đẹp hơn người, sau khi vào cung, được tiên hoàng đế Bắc Đường Hoan sủng ái, liên tục tấn phong, sinh ra hoàng tử Bắc Đường Phong, mà sau khi hoàng hậu Bắc Hán qua đời, Bắc Đường Hoan liền phong Khuất quý phi làm hoàng hậu, bộ tộc Khuất thị lập tức trở thành ngoại thích (họ ngoại của hoàng đế), vô cùng nở mày nở mặt.
Cũng vì có Khuất hoàng hậu, tuy Khuất Nguyên Cổ tài cán thường thường, thậm chí tầm thường, không có chí tiến thủ, nhưng lại một bước lên mây, đường làm quan liên tục thăng tiến, cuối cùng được phong làm Trấn Tây đại tướng quân, trấn thủ các quận của Tây Bắc.
Sau khi Bắc Đường Hoan hạ chỉ, cũng có không ít người dâng tấu, xin Bắc Đường Hoan thu hồi mệnh lệnh đã ban.
Thật ra trong lòng rất nhiều người đều hiểu rõ, bộ tộc Bắc Đường trước kia là ngoại thích của đế quốc Tiên Sở, về sau khởi binh làm loạn, cướp ngôi hoàng đế, hôm nay hoàng đế lại trọng dụng ngoại thích, khó tránh khỏi sẽ cẩn thận đề phòng Khuất Nguyên Cổ.
Chỉ có điều Bắc Đường Hoan vốn là một vị hoàng đế độc đoán chuyên quyền, không biết là bởi vì quá mức sủng ái hoàng hậu, hay là vì nghĩ Khuất Nguyên Cổ tài năng tầm thường, không thể làm nên sóng gió gì, vì vậy Khuất Nguyên Cổ thuận lợi tới Tây Bắc, hơn nữa ở lại đó mấy chục năm.
Khuất gia ở tại Tây Bắc mấy chục năm, hoành hành ngang ngược. Ngay từ đầu, đã có quan viên Tây Bắc ngầm dâng tấu chương lên Bắc Đường Hoan, hạch tội cha con Khuất Nguyên Cổ làm xằng làm bậy ở Tây Bắc, không những bóc lột dân chúng, mà còn nuôi dưỡng môn khách, nhưng kết quả là Khuất Nguyên Cổ không những không bị trừng phạt, mà quan viên dâng tấu chương lần lượt bị định tội. Từ đó, ở Tây Bắc, Khuất gia càng không kiêng dè, tuy dân chúng căm thù hai cha con Khuất Nguyên Cổ tận xương tủy, nhưng không làm gì được.
Khuất Mãn Bảo là con cái nhà quan, từ nhỏ đã ăn sung mặc sướng, quần áo lụa là, từng không ít lần làm chuyện khi nam phách nữ lúc còn nhỏ tuổi, nhưng ít nhiều vẫn có chút kìm chế, tới Tây Bắc rồi, ỷ mình là cháu trai của hoàng hậu, con của Trấn Tây đại tướng quân, y càng không kiêng nể gì cả. Tiếng ác của y đã sớm lan truyền khắp Tây Bắc, không ai dám trêu vào.
Khuất Nguyên Cổ thống lĩnh quân đội nhập quan ải, dưa con thứ vào trong quân, cũng để con trưởng Khuất Mãn Bảo ở lại Hàm Dương trấn thủ.
Khuất Mãn Bảo hầu như không kiêng dè ai, chỉ e sợ một mình Khuất Nguyên Cổ.
Khuất Nguyên Cổ xuất thân binh nghiệp, tính tình thô bạo, không biết cách dạy con, hễ tức giận là dùng roi ngựa đánh, tuy Khuất Mãn Bảo tự cao tự đại, nhưng vẫn luôn e dè trước mặt Khuất Nguyên Cổ. Ở bên ngoài, y không kiêng nể ai, nhưng trở lại phủ Trấn Tây đại tướng quân, cũng có phần bớt phóng túng.
Đợi Khuất Nguyên Cổ đi rồi, Khuất Mãn Bảo liền cảm thấy cả người nhẹ nhõm, khí huyết bừng bừng, rốt cuộc lại muốn trêu chọc, đùa giỡn.
Y lăn lộn nhiều năm ở Tây Bắc, áp bức hãm hiếp rất nhiều, nhưng rốt cuộc cũng không hứng thú lắm, ngược lại, y lại vừa mắt mấy người thiếp của Khuất Nguyên Cổ.
Hai cha con Khuất Nguyên Cổ cùng có một ham thích, đó là dục vọng vô cùng tận đối với nữ sắc.
Tuy Khuất Nguyên Cổ đã gần sáu mươi nhưng có mười mấy tiểu thiếp, hơn nữa không người nào là không kiều diễm động lòng người.
Ở Tây Bắc, hễ nữ nhân nào được Khuất Mãn Bảo hợp ý, thì hầu như rất ít người có thể thoát khỏi lòng bàn tay của y, chỉ có nữ nhân của Khuất Nguyên Cổ là y không dám đụng vào. Ở trong phủ Trấn Tây đại tướng quân, thỉnh thoảng nhìn thấy mấy tiểu thiếp xinh đẹp quyến rũ của cha mình, Khuất Mãn Bảo cảm thấy trong lòng ngứa ngáy, nhưng không dám đưa tay nhúng chàm. Lần này Khuất Nguyên Cổ lĩnh binh nhập quan, cho dù tất cả thuận lợi, trong vòng mấy tháng cũng không có khả năng trở lại Tây Bắc, tất cả mọi việc trong phủ đều do Khuất Mãn Bảo trông nom, ngay cả các tiểu thiếp, cũng giao cho y chăm sóc.
Hai ngày đầu, coi như Khuất Mãn Bảo có quy củ, nhng tới buổi tối ngày thứ ba, y liền lén lút chui vào phòng tiểu thiếp của Khuất Nguyên Cổ, dùng sức mạnh cưỡng dâm nàng ta, tiểu thiếp kia uất ức nhưng lại e sợ, không dám nói ra bên ngoài.
Liên tiếp mấy ngày sau đó, Khuất Mãn Bảo cảm thấy không hứng thú, lại chui vào phòng một tiểu thiếp khác, các thiếp thất trong phủ đều biết tính tình của Khuất Mãn Bảo, người này hung tàn ngang ngược, nếu thực sự chống cự y, không đợi được tới lúc Khuất Nguyên Cổ trở về, e rằng mình đã chết một cách bí ẩn rồi.
Trong hai tháng ngắn ngủi, đã có sáu tiểu thiếp của Khuất Nguyên Cổ bị Khuất Mãn Bảo cưỡng hiếp, hơn nữa không ai dám lộ ra.
Ý nguyện được thỏa mãn, đương nhiên là Khuất Mãn Bảo hết sức hưng phấn, ngày nào cũng làm chuyện dâm dục trong phủ Trấn Tây đại tướng quân. Nhưng người này không phải là người nhẫn nại, sau khi chuyện kích thích qua đi, lại nhanh chóng cảm thấy không hứng thú.
Khuất Nguyên Cổ trấn thủ ở Tây Bắc nhiều năm, trong phủ nuôi dưỡng nhiều phụ tá, một phần trong số đó là do Khuất Nguyên Cổ thu dụng, nhưng cũng có dị nhân giang hồ do Khuất Mãn Bảo thu thập.
Y miệt mài sắc dục quá độ, trong đám phụ tá có một đệ tử đạo gia, tinh thông thuật luyện đan, mấy năm trước lén dâng đan dược cho Khuất Mãn Bảo. Sau khi uống đan dược, Khuất Mãn Bảo cảm thấy mạnh mẽ như rồng, như hổ, khí lực tràn trề, chính vì vậy, viên phụ tá lập tức trở thành tâm phúc của Khuất Mãn Bảo, chuyện y làm xằng làm bậy trong phủ, viên phụ tá kia cũng biết rõ ràng.
Khuất Mãn Bảo ở trong phủ liên tục chiếm đoạt mấy tiểu thiếp của cha mình, trong lòng đương nhiên rất khoái chí, nhưng không dám nói lộ ra ngoài, mà giấu ở trong lòng thì lại rất khó chịu, người duy nhất y có thể tiết lộ, là vị phụ tá kia.
Hàm Dương đổ một trận mưa, tuy không lớn, nhưng mưa dầm kéo dài.
Tuy nói là Khuất Nguyên Cổ để Khuất Mãn Bảo lại trấn thủ Hàm Dương, nhưng các nha môn ở Hàm Dương tự có quan viên quản lý, cho nên Khuất Mãn Bảo hoàn toàn không phải làm gì, tất cả đều đã được vận hành đâu vào đấy.
Y cảm thấy buồn chán vô vị, nằm trên ghế dài, bên cạnh đặt một bếp lò. Tây Bắc là nơi rất lạnh lẽo, khí hậu khắc nghiệt, ngay cả ban ngày cũng lạnh buốt cả người, nhưng lúc này trong phòng ấm áp như mùa xuân.
Trên bàn bày đầy trái cây, rượu và thức ăn, nhưng Khuất Mãn Bảo không có chút hứng thú nào.
Có tiếng đập cửa, ngoài cửa có người nói:
- Đại công tử, tiền phương có tin truyền về.
- Vào đi!
Thời gian này Khuất Mãn Bảo ngày đêm lẻn vào phòng các thiếp thất của cha, miệt mài quá độ, dù đã uống đan dược vào, nhưng thân thể vẫn không có khí lực. Y vừa hơi ngồi dậy, đã thấy cửa phòng bị đẩy ra, viên phụ tá tâm phúc kia đẩy cửa đi vào, rồi xoay người đóng cửa lại.
- Đạo Sinh, đại quân tới đâu rồi?
Viên phụ tá kia tên là Đạo Sinh, là người hiến đan dược cho Khuất Mãn Bảo. Vẻ mặt tươi cười, Đạo Sinh cầm quân báo (tin tức trong quân) trong tay, nói:
- Đại công tử, tin chiến thắng truyền về!
Y đưa quân báo qua, Khuất Mãn Bảo giơ tay ra, nhưng không nhận lấy quân báo, mà cầm lấy bầu rượu trên bàn, nghiêng bầu uống một ngụm lớn, rồi nói;
- Ta thấy phiền nhất là đọc cái này, cái nọ, tình hình thế nào, ngươi nói ta nghe một chút.
- Sau khi đại quân nhập quan, liền hạ hai thành Bạch Dương và Thiệu Phủ.
Đạo Sinh ngồi xuống cái ghế bên cạnh:
- Hơn nữa, hai toà thành này đều là tiểu công tử đích thân dẫn binh mã đánh hạ. Hiện nay sĩ khí trong quân đang thịnh, cứ tiếp tục như vậy, phá Lạc Dương chỉ là vấn đề sớm muộn mà thôi!
Khuất Mãn Bảo nhếch miệng cười, nói;
- Tốt, tiểu tử Mãn Anh này thật sự mang lại vinh quang cho Khuất gia chúng ta rồi.
Đạo Sinh như cười như không nói:
- Dường như đại công tử rất cao hứng.
- Đương nhiên là ta vui vẻ.
Khuất Mãn Bảo nói:
- Đại quân đánh đâu thắng đó, không gì cản nổi, Mãn Anh còn lập được chiến công, đương nhiên là ta vui vẻ…Đạo Sinh, dường như ngươi có chuyện muốn nói, chẳng lẽ ta không nên vui vẻ?
- Đương nhiên là đại công tử nên vui vẻ, thuộc hạ cũng vui mừng.
Đạo Sinh thở dài:
- Nhưng mà…đại công tử, thứ cho thuộc hạ nói thẳng, thuộc hạ cảm thấy cứ tiếp tục thế này, đối với đại công tử chưa chắc là có lợi.
- Lợi ích?
Khuất Mãn Bảo nhíu mày nói:
- Sau khi đại quân Tây Bắc chiếm Lạc Dương, ủng hộ Bắc Đường Phong đăng cơ, đến lúc đó Khuất gia chúng ta có công hỗ trợ và đưa hoàng đế lên ngôi, Bắc Đường Phong không dám không trọng thưởng cho chúng ta. Trước khi đi, phụ thân ta còn nói, chờ ông ấy trở về, nhất định sẽ phong vương bái tướng.
Đạo Sinh gật đầu nói:
- Thật ra thuộc hạ cũng nghĩ giống như đại công tử, nếu như thuận lợi chiếm lấy Lạc Dương, tất nhiên Tam hoàng tử sẽ đăng cơ làm đế, đại tướng quân công lao to lớn, được tấn phong vương gia cũng không tính là gì!
Khuất Mãn Bảo lại cười nói:
- Không sai, ta nghe nói tiểu tử Bắc Đường Hạo rất có diễm phúc, thu mấy giai nhân quốc sắc, ta đã nói với Mãn Anh, sau khi đánh hạ Lạc Dương, vàng bạc châu báu ta không cần, đến lúc đó chỉ cần đưa mấy nữ nhân đó về cho ta. Đạo Sinh, đáng tiếc ngươi không thích nữ nhân, bằng không ta có thể thưởng cho ngươi một người.
- Đại công tử có thể được mỹ nhân, nhưng tiểu công tử sẽ nhận được cái gì?
Đạo Sinh mỉm cười đầy thâm ý.
Khuất Mãn Bảo sửng sốt, vẻ tươi cười dần tan biến. Đạo Sinh ghé sát lại, thấp giọng nói:
- Đại công tử, một khi đánh hạ Lạc Dương, phóng tầm mắt khắp thiên hạ, cũng không ai có thể so sanh công lao của đại tướng quân, hơn nữa sau khi Tam hoàng tử đăng cơ, vua nào triều thần nấy, tất nhiên đại tướng quân sẽ được trọng dụng, thậm chí sẽ ở lại Lạc Dương cùng giải quyết việc triều chính.
Giơ tay vuốt râu, Đạo Sinh khẽ cười nói:
- Tam hoàng tử còn trẻ tuổi, đại công tử cũng biết, nghe đâu ở trong triều, hắn cũng không phải rất tốt, chỉ có thể dựa vào uy vọng của đại tướng quân và binh mã làm quần thần khiếp sợ. Đến lúc đó, tuy đại tướng quân chỉ là bề tôi, nhưng hoàn toàn có thể quyết định việc triều chính.
Khuất Mãn Bảo cười hì hì, nói:
- Nhưng ta đã nói với phụ thân, đến lúc đó nếu như tất cả thuận lợi, nắm trong tay Lạc Dương, chưa chắc không thể giành lấy ngôi hoàng đế. Trước kia Bắc Đường vốn là ngoại thích, ban đầu cũng nhờ soán ngôi mà lập nên vương triều, nếu Bắc Đường gia có thể làm hoàng đế, vì sao Khuất gia chúng ta không được?
Đạo Sinh giơ ngón tay cái lên, nói:
- Đại công tử có hùng tâm tráng chí, quả nhiên là tuyệt đại anh hùng, loại khí phách này, trong thiên hạ ít người sánh kịp.
- Đừng nói lời thừa thãi!
Khuất Mãn Bảo nói:
- Đạo Sinh, rốt cuộc ngươi đang lo lắng cái gì, cứ nói rõ.
- Chuyện này…
Đạo Sinh do dự một chút, rồi nói:
- Đại công tử, bất luận là đại tướng quân phong vương bái tướng, hoặc sẽ tự lập làm hoàng đế, rốt cuộc cũng cần có người thừa kế.
Khuất Mãn Bảo nhíu mày, ồm ồm nói:
- Ta là con trưởng, bất luận phụ thân được phong vương hay là tự lập làm đế, đến lúc đó, người kế thừa đương nhiên là ta, chẳng lẽ còn có nghi vấn gì?
Bạn cần đăng nhập để bình luận